Các đơn vị thể tích và giá trị tương đương
| Đơn vị | Ký hiệu | Tính bằng lít |
|---|---|---|
| Mét khối | m³ | 1.000 l |
| Lít | l | 1 lđơn vị cơ bản |
| Xentilít | cl | 0,01 l |
| Mililít | ml | 0,001 l |
| Gallon Mỹ | gal | 3,78541 l |
| Gallon Anh | gal UK | 4,54609 l |
| Pint Mỹ | pt | 0,473176 l |
| Fluid ounce Mỹ | fl oz | 0,0295735 l |
| Fluid ounce Anh | fl oz UK | 0,0284131 l |
| Quart Mỹ | qt | 0,946353 l |
| Quart Anh | qt UK | 1,13652 l |
| Pint Anh | pt UK | 0,568261 l |
| Cup Mỹ | cup | 0,236588 l |
| Cup mét | cup metric | 0,25 l |
| Cup Nhật | cup JP | 0,2 l |
| Thìa canh Mỹ | tbsp | 0,0147868 l |
| Thìa canh mét | tbsp metric | 0,015 l |
| Thìa canh Úc | tbsp AU | 0,02 l |
| Thìa cà phê Mỹ | tsp | 0,00492892 l |
| Thìa cà phê mét | tsp metric | 0,005 l |
| Đêxilít | dl | 0,1 l |
| Thùng dầu | bbl | 158,987 l |
| Shō | sho | 1,80391 l |
| Gō | go | 0,180391 l |
Câu hỏi thường gặp
Vì sao gallon Mỹ và gallon Anh khác nhau?
Gallon Anh là 4,546 l, gallon Mỹ là 3,785 l, nhỏ hơn khoảng 20%. Hai nước giữ lại những định nghĩa lịch sử riêng khi chuẩn hóa. Mức tiêu thụ tính bằng dặm mỗi gallon vì thế trông đẹp hơn ở Anh với cùng một hiệu năng.
Mililít có phải là xentimét khối không?
Đúng, chính xác: 1 ml = 1 cm³. Xy lanh tiêm và động cơ thường được chia vạch bằng cm³ hay cc, còn chất lỏng thực phẩm bằng ml, nhưng đó là cùng một thể tích.
Lít có luôn đúng bằng một đêximét khối không?
Không. Từ 1901 đến 1964 lít được định nghĩa là thể tích của một kilôgam nước tinh khiết ở khối lượng riêng lớn nhất, tương ứng 1,000028 dm³. Mọi thứ công bố bằng lít trong sáu mươi ba năm ấy vì thế mang sai lệch 28 phần triệu, vô hình trong bếp và có thật trong phòng thí nghiệm. Hội nghị toàn thể về Cân đo lần thứ 12 khôi phục đẳng thức chính xác 1 l = 1 dm³ năm 1964, và khuyến cáo không dùng lít cho công việc đòi độ chính xác cao.
Trộn hai thể tích thì chúng có cộng lại không?
Không phải lúc nào cũng vậy. Đổ 50 ml etanol vào 50 ml nước bạn được khoảng 96 ml chứ không phải 100: những phân tử nhỏ hơn lọt vào khe giữa những phân tử lớn hơn và hỗn hợp co lại chừng 4%. Khối lượng thì ngược lại, luôn cộng được, và đó là thêm một lý do khiến rượu mạnh và siro trong công nghiệp được pha theo cân. Nước với nước, hay dầu với dầu, thì cộng bình thường.
Vì sao một mét khối chứa nhiều đến thế?
Vì thể tích tăng theo lũy thừa ba của kích thước: 1 m³ là 1000 lít, và nhân đôi mọi cạnh thì sức chứa nhân tám chứ không phải nhân hai. Một bể cá 100 nhân 40 nhân 50 cm chứa 200 lít; cũng bể ấy nhân đôi mọi chiều sẽ chứa 1600. Điều đó cũng giải thích sự ngạc nhiên trước một đơn hàng đặt theo yard khối, thường gặp với bê tông và đất mặt ở Hoa Kỳ: một yard khối là 764,6 lít, khoảng ba phần tư mét khối.
Lít không phải một đơn vị SI
Hệ SI đo thể tích bằng mét khối. Lít không nằm trong các đơn vị của nó: nó được chấp nhận dùng cùng hệ SI vì tiện, và đúng bằng một đêximét khối kể từ năm 1964. Cái mốc ấy quan trọng. Từ 1901 đến 1964, lít được định nghĩa là thể tích một kilôgam nước tinh khiết ở khối lượng riêng lớn nhất, khiến nó lớn hơn đêximét khối hai mươi tám phần triệu. Khoảng lệch ấy chẳng làm phiền căn bếp nào và làm phiền hóa phân tích rất nhiều, nên Hội nghị toàn thể về Cân đo đã bỏ định nghĩa cũ.
Gallon chưa bao giờ là một đơn vị mà là hai. Gallon Mỹ là 3,785411784 lít và bắt nguồn từ wine gallon của nữ hoàng Anne, ấn định năm 1707 ở 231 inch khối. Gallon Anh là 4,54609 lít và được định nghĩa năm 1824 là thể tích của mười pound nước. Hai mươi phần trăm ngăn cách chúng. Một chiếc xe quảng cáo ba mươi dặm mỗi gallon vì thế đốt 7,84 lít trên một trăm kilômét theo con số Mỹ và 9,42 theo con số Anh.