Các đơn vị chiều dài và giá trị tương đương
| Đơn vị | Ký hiệu | Tính bằng mét |
|---|---|---|
| Kilômét | km | 1.000 m |
| Mét | m | 1 mđơn vị cơ bản |
| Xentimét | cm | 0,01 m |
| Milimét | mm | 0,001 m |
| Dặm | mi | 1.609 m |
| Yard | yd | 0,9144 m |
| Foot | ft | 0,3048 m |
| Inch | in | 0,0254 m |
| Hải lý | nmi | 1.852 m |
| Đêximét | dm | 0,1 m |
| Micrômét | µm | 0,000001 m |
| Sải | ftm | 1,8288 m |
| Shaku | shaku | 0,30303 m |
| Sun | sun | 0,030303 m |
| Ken | ken | 1,81818 m |
| Ri (Nhật) | ri | 3.927 m |
Phương pháp và nguồn · Những đơn vị không có một giá trị duy nhất · Khổ giấy và cái bẫy pixel · Cỡ giày dép, và vì sao chúng không quy đổi
Câu hỏi thường gặp
Vì sao inch vẫn tồn tại ở các nước dùng hệ mét?
Đường chéo màn hình, vành xe, khung xe đạp và đường kính ống nước vẫn được chuẩn hóa theo inch trên toàn thế giới. Những ngành này tiếp nhận tiêu chuẩn công nghiệp Anh Mỹ trước khi hệ mét lan rộng, và chưa bao giờ đổi.
Hải lý có phải là dặm không?
Không. Dặm luật định là 1.609 m, hải lý là 1.852 m, dài hơn khoảng 15%. Hải lý bằng một phút vĩ độ và chỉ dùng trong hàng hải và hàng không, nơi tốc độ được ghi bằng hải lý mỗi giờ.
Vì sao A4 và US Letter không khớp nhau?
A4 là 210 nhân 297 mm, US Letter là 8,5 nhân 11 inch, tức 215,9 nhân 279,4 mm: rộng hơn sáu milimét, ngắn hơn mười tám. Dãy A theo tỉ lệ căn bậc hai của hai, nên gập đôi một tờ sẽ được khổ kế tiếp với cùng tỉ lệ, và A0 đúng bằng một mét vuông. Letter không có tính chất ấy: in một tài liệu A4 trên giấy Letter sẽ thu về khoảng 94% và làm lệch mọi lề.
Mil có phải là milimét không?
Không, và khoảng cách là gấp 39 lần. Một mil, người Anh gọi là thou, là một phần nghìn inch, tức 0,0254 mm: một tấm ghi 5 mil dày 0,127 mm chứ không phải 5 mm. Micron ít gài bẫy hơn, vì nó chỉ là micrômét, một phần nghìn milimét, vẫn sống trong ngành lọc và màng mỏng dù CGPM đã bỏ tên gọi này năm 1967. Dưới nó là nanômét và angstrom bằng 0,1 nm, và xin lưu ý rằng con số 3 nm của một con chip đã nhiều năm không đo bất cứ thứ gì có thật: đó là tên một thế hệ.
Sau kilômét là gì?
Với hệ Mặt Trời là đơn vị thiên văn, từ năm 2012 được ấn định đúng bằng 149.597.870,7 km, xấp xỉ khoảng cách Trái Đất tới Mặt Trời. Xa hơn là năm ánh sáng, quãng đường ánh sáng đi trong một năm Julius, 9,46 nghìn tỉ kilômét. Bản thân các nhà thiên văn lại thích parsec, 3,26 năm ánh sáng hay 30,86 nghìn tỉ kilômét, vì nó rơi thẳng ra từ một phép đo thị sai: một parsec là khoảng cách mà tại đó quỹ đạo Trái Đất chắn một giây cung. Proxima Centauri, ngôi sao gần nhất, nằm ở 4,25 năm ánh sáng, tức 1,30 parsec.
Mét không còn so với thứ gì nữa
Mét thoạt đầu là một phần của kinh tuyến Trái Đất, rồi là một thanh bạch kim, trước khi trở thành vào năm 1983 quãng đường ánh sáng đi trong chân không trong 1/299.792.458 giây. Tốc độ ánh sáng vì thế không còn được đo nữa: nó được ấn định theo định nghĩa, và mét suy ra từ đó. Không còn một chuẩn vật chất nào trong chuỗi ấy, điều khiến chiều dài có thể tái lập trong bất kỳ phòng thí nghiệm nào.
Inch phụ thuộc vào mét kể từ thỏa thuận quốc tế năm 1959 về yard và pound: nó đúng bằng 2,54 xentimét, không hơn không kém. Trước thỏa thuận ấy, inch Mỹ và inch Anh lệch nhau ba phần triệu, vô hại với một người thợ mộc và phiền toái với quang học và hàng không. Mọi đơn vị chiều dài thông dụng nay đều được định nghĩa từ mét.