Đổi l/100 km sang mpg như thế nào?
Lấy 235,2145833 chia cho giá trị tính bằng lít trên một trăm kilômét. Hằng số ấy không tùy tiện: một trăm kilômét là 62,137 dặm và một lít là 0,2641721 gallon Mỹ, tỉ số giữa hai con số cho ra 235,2145833. Với gallon Anh, lớn hơn một phần năm, hằng số thành 282,4809363.
Nơi hai đơn vị này được dùng
Lít trên một trăm kilômét đo một khoản tốn kém, nên càng thấp càng tốt: nó là nghịch đảo của một mức tiết kiệm, và không bao giờ được lấy trung bình hai con số loại này. Dặm mỗi gallon Mỹ đo mức tiết kiệm, nên càng cao càng tốt, và nó được tính trên gallon 3,785 lít.
Mức tiêu thụ thường gặp tính bằng lít trên 100 km và bằng mpg
| 3 l/100 km (xe lai) | 78,40 mpg |
| 4 l/100 km | 58,80 mpg |
| 5 l/100 km | 47,04 mpg |
| 6 l/100 km | 39,20 mpg |
| 7 l/100 km | 33,60 mpg |
| 8 l/100 km | 29,40 mpg |
| 9 l/100 km | 26,13 mpg |
| 10 l/100 km | 23,52 mpg |
| 12 l/100 km | 19,60 mpg |
| 15 l/100 km | 15,68 mpg |
| 20 l/100 km (xe tải nhỏ) | 11,76 mpg |
Hiện mọi giá trị
- 1 l/100 km = 235,21 mpg
- 2 l/100 km = 117,61 mpg
- 3 l/100 km = 78,4 mpg
- 4 l/100 km = 58,8 mpg
- 5 l/100 km = 47,04 mpg
- 6 l/100 km = 39,2 mpg
- 7 l/100 km = 33,6 mpg
- 8 l/100 km = 29,4 mpg
- 9 l/100 km = 26,13 mpg
- 10 l/100 km = 23,52 mpg
- 11 l/100 km = 21,38 mpg
- 12 l/100 km = 19,6 mpg
- 13 l/100 km = 18,09 mpg
- 14 l/100 km = 16,8 mpg
- 15 l/100 km = 15,68 mpg
- 16 l/100 km = 14,7 mpg
- 17 l/100 km = 13,84 mpg
- 18 l/100 km = 13,07 mpg
- 19 l/100 km = 12,38 mpg
- 20 l/100 km = 11,76 mpg
- 21 l/100 km = 11,2 mpg
- 22 l/100 km = 10,69 mpg
- 23 l/100 km = 10,23 mpg
- 24 l/100 km = 9,8 mpg
- 25 l/100 km = 9,41 mpg
- 26 l/100 km = 9,05 mpg
- 27 l/100 km = 8,71 mpg
- 28 l/100 km = 8,4 mpg
- 29 l/100 km = 8,11 mpg
- 30 l/100 km = 7,84 mpg
- 31 l/100 km = 7,59 mpg
- 32 l/100 km = 7,35 mpg
- 33 l/100 km = 7,13 mpg
- 34 l/100 km = 6,92 mpg
- 35 l/100 km = 6,72 mpg
- 36 l/100 km = 6,53 mpg
- 37 l/100 km = 6,36 mpg
- 38 l/100 km = 6,19 mpg
- 39 l/100 km = 6,03 mpg
- 40 l/100 km = 5,88 mpg
- 41 l/100 km = 5,74 mpg
- 42 l/100 km = 5,6 mpg
- 43 l/100 km = 5,47 mpg
- 44 l/100 km = 5,35 mpg
- 45 l/100 km = 5,23 mpg
- 46 l/100 km = 5,11 mpg
- 47 l/100 km = 5 mpg
- 48 l/100 km = 4,9 mpg
- 49 l/100 km = 4,8 mpg
- 50 l/100 km = 4,7 mpg
- 51 l/100 km = 4,61 mpg
- 52 l/100 km = 4,52 mpg
- 53 l/100 km = 4,44 mpg
- 54 l/100 km = 4,36 mpg
- 55 l/100 km = 4,28 mpg
- 56 l/100 km = 4,2 mpg
- 57 l/100 km = 4,13 mpg
- 58 l/100 km = 4,06 mpg
- 59 l/100 km = 3,99 mpg
- 60 l/100 km = 3,92 mpg
- 61 l/100 km = 3,86 mpg
- 62 l/100 km = 3,79 mpg
- 63 l/100 km = 3,73 mpg
- 64 l/100 km = 3,68 mpg
- 65 l/100 km = 3,62 mpg
- 66 l/100 km = 3,56 mpg
- 67 l/100 km = 3,51 mpg
- 68 l/100 km = 3,46 mpg
- 69 l/100 km = 3,41 mpg
- 70 l/100 km = 3,36 mpg
- 71 l/100 km = 3,31 mpg
- 72 l/100 km = 3,27 mpg
- 73 l/100 km = 3,22 mpg
- 74 l/100 km = 3,18 mpg
- 75 l/100 km = 3,14 mpg
- 76 l/100 km = 3,09 mpg
- 77 l/100 km = 3,05 mpg
- 78 l/100 km = 3,02 mpg
- 79 l/100 km = 2,98 mpg
- 80 l/100 km = 2,94 mpg
- 81 l/100 km = 2,9 mpg
- 82 l/100 km = 2,87 mpg
- 83 l/100 km = 2,83 mpg
- 84 l/100 km = 2,8 mpg
- 85 l/100 km = 2,77 mpg
- 86 l/100 km = 2,74 mpg
- 87 l/100 km = 2,7 mpg
- 88 l/100 km = 2,67 mpg
- 89 l/100 km = 2,64 mpg
- 90 l/100 km = 2,61 mpg
- 91 l/100 km = 2,58 mpg
- 92 l/100 km = 2,56 mpg
- 93 l/100 km = 2,53 mpg
- 94 l/100 km = 2,5 mpg
- 95 l/100 km = 2,48 mpg
- 96 l/100 km = 2,45 mpg
- 97 l/100 km = 2,42 mpg
- 98 l/100 km = 2,4 mpg
- 99 l/100 km = 2,38 mpg
- 100 l/100 km = 2,35 mpg
- 110 l/100 km = 2,14 mpg
- 120 l/100 km = 1,96 mpg
- 130 l/100 km = 1,81 mpg
- 140 l/100 km = 1,68 mpg
- 150 l/100 km = 1,57 mpg
- 160 l/100 km = 1,47 mpg
- 170 l/100 km = 1,38 mpg
- 180 l/100 km = 1,31 mpg
- 190 l/100 km = 1,24 mpg
- 200 l/100 km = 1,18 mpg
Hằng số 235,2145833 suy ra từ hai định nghĩa chính xác, gallon Mỹ ở 3,785411784 lít và dặm ở 1609,344 mét. Nó không phải một cách làm tròn tiện tay: nó là tỉ số của một trăm kilômét tính bằng dặm trên một lít tính bằng gallon. Phương pháp và nguồn.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao con số quy đổi không khớp con số Mỹ công bố?
Vì hai con số đến từ hai bài thử khác nhau. Giá trị châu Âu đến từ chu trình WLTP, bắt buộc với mọi xe đăng ký mới từ ngày 1 tháng 9 năm 2018; giá trị Mỹ đến từ quy trình năm chu trình của EPA áp dụng từ đời xe 2008, vốn thêm một lần khởi động lạnh ở −7 °C, có bật điều hòa và có lái nhanh, gắt. EPA còn công bố một con số gộp theo tỉ trọng 55 phần trăm thành phố và 45 phần trăm đường trường. Một chiếc xe ghi 8,1 l/100 km ở châu Âu quy đổi thành 29 mpg, thế nhưng nhãn Mỹ của nó có thể ghi 26: phép tính chính xác, chỉ hai quy trình thử là không khớp.
Một chiếc xe có thật sự đạt con số chính thức không?
Hiếm khi, và khoảng cách nay được đo ngay trên xe. Quy định châu Âu 2018/1832 buộc mọi xe mới đăng ký từ ngày 1 tháng 1 năm 2021 phải có thiết bị đo mức tiêu thụ thực tế, gọi là OBFCM, và dữ liệu được thu khi đăng kiểm. Phân tích đầu tiên do Ủy ban công bố đặt khoảng cách trung bình ở chừng hai mươi phần trăm trên con số WLTP, với xăng cũng như dầu. Một mức chính thức 5 l/100 km, tức 47,04 mpg, vì thế thành 6 l/100 km trên đường, tức 39,20 mpg. Hãy quy đổi con số bạn đo được chứ đừng quy đổi con số trong tờ rơi.
Vì sao chạy cao tốc tốn nhiều nhiên liệu đến vậy?
Vì lực cản không khí tăng theo bình phương tốc độ, và công suất để thắng nó tăng theo lũy thừa ba. Đi từ 130 xuống 110 km/h tiết kiệm chừng một lít trên một trăm kilômét với một chiếc sedan bình thường, biến 7 l/100 km, tức 33,60 mpg, thành 6 l/100 km, tức 39,20 mpg. Hà Lan hạ giới hạn ban ngày trên cao tốc từ 130 xuống 100 km/h ngày 16 tháng 3 năm 2020, và tác động lên mức tiêu thụ của cả đội xe chỉ về cùng một hướng. Trong phố thì ngược lại: khối lượng và việc dừng lại chiếm ưu thế, còn khí động học gần như không tính.
Xăng E10 có làm đổi con số không?
Có, chừng một phẩy năm đến hai phần trăm. Etanol mang ít hơn xăng khoảng một phần ba năng lượng mỗi lít, nên một loại nhiên liệu chứa mười phần trăm etanol thay vì năm cần thêm chút thể tích cho cùng quãng đường. Anh đưa E10 thành loại 95 tiêu chuẩn của mình ngày 1 tháng 9 năm 2021; Pháp giới thiệu nó từ 2009. Khoảng cách trở nên rõ với E85, thêm hai mươi lăm đến ba mươi phần trăm nhiên liệu: một chiếc xe 7 l/100 km, tức 33,60 mpg, chuyển sang 9 l/100 km, tức 26,13 mpg. Chuyện đó có lợi hay không là câu hỏi về giá mỗi lít, không bao giờ là về con số trên bảng đồng hồ.
Vì sao một chiếc lai sạc điện được ghi 1,6 l/100 km?
Vì con số chính thức của nó trộn số kilômét chạy bằng điện với số kilômét chạy bằng nhiên liệu, theo một tỉ lệ do một hệ số sử dụng trong quy định ấn định chứ không do cách bạn lái. Quy đổi ra, 1,6 l/100 km ấy đọc thành 147 mpg, con số mà chẳng tài xế nào từng thấy ở cây xăng. Ủy ban châu Âu sửa lại các hệ số sử dụng ấy ngày 1 tháng 1 năm 2025, khiến mức tiêu thụ công bố của loại xe này tăng vọt mà không một chi tiết cơ khí nào thay đổi. Một chiếc lai sạc điện không bao giờ được cắm điện sẽ tiêu thụ như một chiếc lai thường phải cõng thêm bộ pin, sáu đến tám lít trên một trăm kilômét.