Long ton, đơn vị khối lượng Anh
Long ton là 2240 pound, tức 1016,047 kilôgam, đúng bằng 1,12 short ton. Nó chỉ vượt tấn mét 1,6 phần trăm.
Chính khoảng cách nhỏ ấy mới là cái bẫy. Phần thiếu của short ton lộ ra trong mọi tổng số; 1,6 phần trăm của long ton thì nép vào chỗ làm tròn của một tờ phiếu và chỉ nổi lên lúc thanh toán. Hiệp ước hải quân Washington năm 1922 giới hạn thiết giáp hạm ở 35.000 long ton lượng giãn nước tiêu chuẩn, tức 35.562 tấn mét: 562 tấn dư mà văn bản trao đi mà không phải viết ra. Bản thân con số lẻ ấy đến từ biển cả. Các kiến trúc sư hải quân lâu nay tính một long ton là khối lượng của 35 foot khối nước biển, nên một thể tích thân tàu tính bằng foot khối chia cho 35 cho ra lượng giãn nước ngay. Phép tính khớp: 35 foot khối ở 1025 kilôgam mỗi mét khối nặng 1015,9 kg, cách long ton hai phần trăm của một phần trăm.
Long ton trong các đơn vị khác
| 1 ton UK | 1,01605 t |
| 1 ton UK | 1.016 kg |
| 1 ton UK | 1.016.047 g |
| 1 ton UK | 1.016.046.909 mg |
| 1 ton UK | 2.240 lb |
| 1 ton UK | 35.840 oz |
| 1 ton UK | 32.667 oz t |
| 1 ton UK | 160 st |
| 1 ton UK | 5.080.235 ct |
| 1 ton UK | 1,12 ton US |
| 1 ton UK | 1.016.046.908.800 µg |
| 1 ton UK | 2.032 lb metric |
| 1 ton UK | 87.111 tola |
| 1 ton UK | 270.946 momme |
| 1 ton UK | 270,946 kan |
Câu hỏi thường gặp
Một độ bền ghi bằng tấn trên inch vuông nghĩa là gì?
Đó là đơn vị của các phòng vẽ kỹ thuật Anh trước khi chuyển sang hệ mét: một long ton lực trên inch vuông là 15,444 mêgapascal, nên một loại thép ghi 26 tấn trên inch vuông đứng ở 402 mêgapascal. Bản vẽ cũ giữ thang ấy, và đọc nó thành short ton sẽ làm mất mười một phần trăm độ bền.
Long ton còn được dùng không?
Không trong thương mại Anh: từ ngày 1 tháng 10 năm 1995, hàng bán theo trọng lượng ở Anh được cân bằng đơn vị mét. Nó sống ở nơi khác, đặc biệt trong lượng giãn nước của tàu chiến Mỹ, đến nay vẫn công bố bằng long ton, và trong quặng sắt cùng thép ở Bắc Mỹ, nơi gross ton vẫn là tấn của hợp đồng.
Mọi loại tấn của một con tàu có phải trọng lượng không?
Không, và hai trong số đó chẳng đo gì ngoài không gian. Register ton là 100 foot khối thể tích kín, tức 2,832 mét khối, cho tới khi công ước năm 1969 thay nó bằng một con số không thứ nguyên. Freight ton, hay measurement ton, là 40 foot khối, tức 1,133 mét khối, và đến nay vẫn tính tiền hàng rời mỗi khi thể tích đắt hơn khối lượng.