kN sang kg: vì sao kilônewton không phải là kilôgam

Kilônewton là một lực còn kilôgam là một khối lượng, nên nói cho chặt thì hai đại lượng này không đổi cho nhau. Ai cũng vẫn đổi, và trên Trái Đất câu trả lời là 101,97 kilôgam cho mỗi kilônewton. Đây là phép chia cho ra con số đó, và thời điểm nó thôi đúng.

Lực và khối lượng không phải cùng một đại lượng

Newton đo một lực kéo: một newton làm một kilôgam tăng tốc một mét trên giây bình phương. Kilôgam đo vật chất, và nó không đổi khi bạn mang lên núi hay đưa lên quỹ đạo. Một bộ đổi đơn vị chuyển bên này thành bên kia mà không nói gì thì đang giấu một giả thiết chứ không phải đang tính.

Giả thiết đó là tải treo yên tại mặt đất. Chỉ trong điều kiện ấy một lực mới có trọng lượng tính bằng kilôgam, và lối tắt này có tên riêng: kilôgam lực, viết là kgf, đúng bằng sức kéo của một kilôgam dưới trọng trường tiêu chuẩn.

Phép chia và con số đáng nhớ

Trọng trường tiêu chuẩn được quy ước ấn định năm 1901 là 9,80665 mét trên giây bình phương. Chia newton cho con số đó thì ra kilôgam lực. Một kilônewton bằng một nghìn newton, nên một kilônewton là 101,97 kilôgam, xấp xỉ một phần mười tấn.

Đọc ngược lại, cũng phép chia ấy trả lời đúng câu người ta thật sự gõ: 100 newton là 10,2 kilôgam, và một sức chịu ghi 50 kN giữ được hơn năm tấn một chút. Bản thô, một kilônewton cho một trăm kilôgam, thấp hơn 2 phần trăm: đủ dùng cho một bản phác, không đủ cho một biên an toàn.

Lối tắt đúng ở đâu và hỏng ở đâu

Trọng trường không giống nhau khắp Trái Đất, nhưng thay đổi rất ít: 9,780 ở xích đạo, 9,832 ở hai cực, chênh nửa phần trăm. Với một cần cẩu, một pa lăng, một điểm neo leo núi hay một bu lông bị kéo bật khỏi bê tông, con số 101,97 còn chính xác hơn mức tải sẽ được đo.

Nó hỏng ở hai chỗ. Một tải đang được tăng tốc kéo mạnh hơn trọng lượng của chính nó, vì vậy thiết bị nâng luôn ghi tải làm việc an toàn thấp hơn nhiều so với lực đứt. Và ở nơi khác trọng trường không phải 9,80665: cũng kilônewton ấy giữ được khối lượng gấp sáu lần trên Mặt Trăng, và không giữ được gì khi rơi tự do, nơi khối lượng vẫn thế còn lực chỉ số không.

kn viết thường là hải lý mỗi giờ, không phải kilônewton

Hai ký hiệu chỉ khác nhau một chữ hoa, và gần như không ai gõ chữ hoa đó. kN với chữ N hoa là kilônewton, một lực. kn viết thường là hải lý mỗi giờ, một tốc độ, và ô tìm kiếm buộc phải đoán bạn muốn cái nào.

Nếu bạn đến vì tốc độ tàu thuyền thì đơn vị đó có trang riêng: một hải lý mỗi giờ đúng bằng 1,852 kilômét mỗi giờ, vì hải lý được định nghĩa là 1852 mét. Nếu bạn đến vì sức chịu tải, bạn đang ở đúng trang.

Kilônewton, và khối lượng chúng giữ được dưới trọng trường tiêu chuẩn

LựcKhối lượng trên Trái Đất
1 kN101,97 kg
2 kN203,94 kg
5 kN509,86 kg
10 kN1.019,72 kg
14 kN1.427,60 kg
50 kN5.098,58 kg
100 kN10.197,16 kg

Mỗi dòng chia lực cho 9,80665. Trên thiên thể khác, hoặc với tải đang được tăng tốc, cột thứ hai không còn đúng.

Câu hỏi thường gặp

1 kN bằng bao nhiêu kg?

1 kN bằng 101,97 kg trên Trái Đất, nói chính xác là 101,97 kgf. Con số ra từ việc chia 1000 newton cho trọng trường tiêu chuẩn 9,80665.

100 newton bằng bao nhiêu kg?

100 N bằng 10,2 kg. Vẫn phép chia đó: 100 chia cho 9,80665 được 10,197 kilôgam lực, và một cái cân đặt dưới tải sẽ hiện 10,2 kg.

kn có phải là kg không?

Không. Kilônewton là một lực còn kilôgam là một khối lượng, và cái này chỉ thành cái kia khi giả định trọng trường tiêu chuẩn trên Trái Đất. Cũng để ý chữ hoa: kn viết thường là hải lý mỗi giờ, tốc độ 1,852 km/h.

Lực · Khối lượng · Hải lý mỗi giờ

Phương pháp và nguồn