Năm, đơn vị thời gian
Năm dùng ở đây là năm trung bình của lịch Gregory, đúng 365,2425 ngày hay 31.556.952 giây. Đó là một khoảng thời gian được định nghĩa chứ không phải một khoảng đã sống: không năm nào trên lịch kéo dài đúng như vậy, vì mỗi năm có 365 hoặc 366 ngày.
Hai loại năm cạnh tranh nhau, và chúng chênh nhau 648 giây. Loại nói ở trên đến từ cuộc cải cách Gregory năm 1582, thứ đã bỏ ba ngày nhuận mỗi bốn trăm năm để giữ lịch khớp với mùa, để lại một trung bình 365,2425 ngày. Thiên văn giữ lại năm Julius cũ hơn, đúng 365,25 ngày, thứ mà Liên đoàn Thiên văn Quốc tế đưa vào hệ hằng số năm 1976 của mình, và chính năm ấy chứ không phải năm của lịch mới định nghĩa năm ánh sáng. Qua một thế kỷ, hai loại trôi xa nhau mười tám giờ.
Năm trong các đơn vị khác
| 1 yr | 31.556.952 s |
| 1 yr | 31.556.952.000 ms |
| 1 yr | 31.556.952.000.000 µs |
| 1 yr | 525.949 min |
| 1 yr | 8.766 h |
| 1 yr | 365,242 d |
| 1 yr | 52,1775 wk |
| 1 yr | 12 mo |
Câu hỏi thường gặp
Một năm có bao nhiêu giây?
31.556.952 theo giá trị trung bình của lịch dùng ở đây, so với 31.557.600 trong năm Julius của thiên văn. Khoảng cách 648 giây là lý do mọi khoảng thời gian dài đều nên nói rõ nó dùng loại năm nào.
Vì sao 365,2425 chứ không phải 365,25?
Vì một phần tư ngày mỗi năm là hơi quá nhiều. Quỹ đạo Trái Đất mất ít hơn 365,25 ngày chừng mười một phút, nên lịch Julius dôi ra trọn một ngày sau mỗi 128 năm; cuộc cải cách Gregory bỏ ba ngày nhuận mỗi bốn thế kỷ để chặn sự trôi ấy.
Đây có phải năm của năm ánh sáng không?
Không, và khác biệt thì nhìn thấy được. Năm ánh sáng được dựng trên năm Julius 365,25 ngày, khiến nó đúng bằng 9.460.730.472.580.800 mét. Tính bằng năm của lịch, nó sẽ hụt chừng 194 tỉ kilômét.